Tiến Lợi - Tổng hợp

Lịch sử dòng xe Nissan Skyline GT-R huyền thoại và những điều chưa biết (Phần 1)

(News.oto-hui.com) – Với những ai là fan hâm mộ của loạt phim ảnh về ô tô độ, tựa phim Fast & Furious hay Quá nhanh quá nguy hiểm chắc hẳn đã không còn xa lạ với những chiếc xe độ huyền thoại. Không chỉ thu hút bởi những pha hành động, đua xe mãn nhãn, những phần đầu của loạt phim còn cho thấy sức mạnh, tính năng vượt trội của dòng xe Skyline GT-R huyền thoại.

1. Lịch sử dòng xe Nissan Skyline GT-R:

Nissan Skyline GT-R là một chiếc dòng thể thao dựa trên dòng Nissan Skyline. Những chiếc xe đầu tiên có tên “Skyline GT-R” được sản xuất từ ​​năm 1969 đến năm 1972 với mã kiểu KPGC10 và đã thành công trong các giải đua xe đường phố của Nhật Bản. Sau sự thành công của mẫu xe này, thế hệ 2 của dòng xe này được Nissan cho ra mắt với mã kiểu KPGC110, vào năm 1973.

Diễn viên Paul Walker quá cố bên cạnh chiếc xe Nissan Skyline GT-R huyền thoại.
Diễn viên Paul Walker quá cố bên cạnh chiếc xe Nissan Skyline GT-R huyền thoại.

Sau 16 năm gián đoạn, cái tên GT-R đã được hồi sinh vào năm 1989 với tên gọi BNR32 (“R32”) Skyline GT-R. Các phiên bản thông số kỹ thuật nhóm A của R32 GT-R đã được sử dụng để giành chức vô địch Giải vô địch xe của Nhật Bản trong bốn năm liên tiếp. R32 GT-R cũng đã thành công trong Giải vô địch xe du lịch Úc, với việc Jim Richards sử dụng nó để giành chức vô địch vào năm 1991 và Mark Skaife cũng làm như vậy vào năm 1992, cho đến khi một thay đổi quy định loại trừ GT-R vào năm 1993 .

Công nghệ và hiệu suất của R32 GT-R đã khiến ấn phẩm xe hơi Úc Wheels đặt biệt danh là GT-R “Godzilla” trong ấn bản tháng 7 năm 1989. Tạp chí Wheels sau đó đã mang cái tên này qua tất cả các thế hệ Skyline GT-R, đáng chú ý nhất là R34 GT-R, được họ đặt biệt danh là “Godzilla Returns” và được mô tả là “Chiếc xe xử lý tốt nhất mà họ từng lái” .

Trong các thử nghiệm được thực hiện, R34 GT-R đã đi được quãng đường một phần tư dặm (402 mét) trong 12,2 giây kể từ thời điểm xuất phát đứng yên và tăng tốc từ 0–100 km/h (0–62 dặm/giờ) trong 4,4 giây. Nó là một trong những thông số tăng tốc nhanh nhất của ô tô vào thời điểm đó. Skyline GT-R cũng đã trở thành chiếc xe dẫn đầu về hiệu suất của Nissan, trưng bày nhiều công nghệ tiên tiến bao gồm hệ thống dẫn động bốn bánh ATTESA E-TS và hệ thống lái bốn bánh Super-HICAS.

Xem thêm bài viết:
Công nghệ đánh lái 4 bánh – Four-Wheel Steering hoạt động như thế nào?

Ngày nay, chiếc xe này phổ biến cho các cuộc đua Drag Race (hiểu đơn giản là những cuộc đua 1-1 giữa 2 xe; cùng xuất phát tại một điểm và đua xem ai về đích trước), Circuit Track (đường đua khép kín với điểm xuất phát và điểm đích tạo thành 1 vòng khép kín, tương tự như đường đua F1 hiện hành), Time Attack (đối thủ duy nhất của người chơi trong thể loại này là thời gian, thành tích sẽ được tính theo thời gian hoàn thành một vòng đua).

Việc sản xuất Nissan Skyline GT-R kết thúc vào tháng 8 năm 2002. Chiếc xe được thay thế bằng GT-R (R35) , một phương tiện hoàn toàn mới dựa trên nền tảng nâng cao của nền tảng Skyline V36 . Mặc dù có sự khác biệt rõ ràng, hai dòng xe này có chung các đặc điểm thiết kế và được sản xuất tại cùng một nhà máy.

Điều đáng tiếc nhất trong khoảng thời gian vàng của Skyline GT-R có lẽ là việc không có một nhà máy sản xuất nào ở nước ngoài. Mọi thứ đều được sản xuất tại Nhật Bản khiến cho sản lượng xe bán ra bị hạn chế, người nước ngoài muốn mua một chiếc xe này cần nhập khẩu nguyên chiếc và thủ tục đăng ký, đăng kiểm thời đó khá khó khăn.

Các thị trường xuất khẩu duy nhất là Hồng Kông, Singapore, Úc và New Zealand vào năm 1991 và Vương quốc Anh (năm 1997, do chương trình Phê duyệt một phương tiện là hàng nhập khẩu Nhật Bản đã qua sử dụng).

2. Những thông số quan trọng của dòng xe Skyline GT-R:

Trước tiên, GT-R là viết tắt của Gran Turismo–Racing, Gran Turismo là một từ tiếng Ý có nghĩa là xe con (sedan) còn Racing là xe đua.

a. Thế hệ thứ nhất (1969-1972):

Skyline GT-R đầu tiên, được biết đến với ký hiệu nội bộ Nissan là PGC10, được giới thiệu vào ngày 4 tháng 2 năm 1969 và độc quyền cho mạng lưới đại lý Nissan Nhật Bản có tên Nissan Prince Store khi công ty Prince được hợp nhất vào các hoạt động của Nissan vào năm 1966.

Nó được quảng cáo cùng với xe đua Nissan R380 để giới thiệu cũng như gắn mác xe đua cho dòng Skyline. Nó được trang bị động cơ 2.0 L DOHC S20 – động cơ 2 trục cam trên cao. 6 xylanh thẳng hàng (hình chữ I), sản sinh công suất 119 kW (khoảng 160 mã lực) tại 7.000 vòng/phút và mô men xoắn 176 Nm tại 5.600 vòng / phút.

Công suất được truyền tới cầu sau chủ động bằng hộp số sàn 5 cấp và chiếc xe được trang bị bộ vi sai hạn chế trượt. Skyline GT-R đầu tiên sử dụng hệ thống treo độc lập với đòn kéo nghiêng (semi-trailing arm strut suspension). Hệ thống phanh bao gồm phanh đĩa ở phía trước và phanh tang trống ở phía sau. Số lượng sản xuất của thế hệ đầu tiên là 17.316 chiếc

b. Thế hệ thứ 2 (1973):

Tiếp nối sự thành công của thế hệ đầu tiên, thế hệ thứ 2 với ký hiệu KPGC110 (mẫu GT-R này còn được gọi là Kenmeri Skyline) được đưa ra thị trường vào năm 1973 sau khi được giới thiệu tại Tokyo Motor Show 1972 . KPGC110 được trang bị động cơ S20 6 xi-lanh thẳng hàng, dung tích 1.989 cc. Thế hệ thứ hai của GT-R dẫn động cầu sau với hộp số sàn 5 cấp. Chiếc xe này cũng có cả phanh đĩa trước và sau.

Thế hệ thứ 2 được cải tiến với một số chi tiết khí động học, tuy nhiên đã không thành công do cuộc khủng hoảng xăng dầu xảy ra vào đầu những năm 1970, làm giảm nhu cầu đối với những chiếc xe thể thao hiệu suất cao. Tuy vậy, vẫn có đến 11.187 chiếc Kenmeri Skyline được sản xuất trong khoảng thời gian này.

c. Thế hệ thứ 3 (1989-1994):

Sau khi ngừng sản xuất Skyline GT-R vào năm 1973, Nissan đã hồi sinh lại bảng tên GT-R vào năm 1989. Vào thời điểm đó, Nissan đang cạnh tranh trong Nhóm A Đua xe với dòng xe đua Skyline GTS-R. Tuy nhiên Nissan muốn loại bỏ GTS-R để chuyển sang một phương tiện cạnh tranh hơn. Thế hệ khung gầm GT-R mới, E-BNR32 (thường được rút ngắn thành R32 ), được thiết kế để thống trị các cuộc đua hạng A lúc bấy giờ.

Ban đầu, Nissan đã thử nghiệm phiên bản động cơ RB20 2.4 L (2.350 cc) tăng áp kép. Với công suất đầu ra là 233 kW (312 mã lực) và sử dụng hệ dẫn động bánh sau . Theo quy định của Nhóm A trong giải xe đua, động cơ tăng áp phải nhân dung tích động cơ của nó với 1,7, đưa Skyline mới vào loại 4.000 cc và yêu cầu sử dụng lốp rộng 10 inch.

Khi này, Nissan đã quyết định chế tạo chiếc xe dẫn động bốn bánh toàn thời gian AWD. Nissan đã phát triển một hệ thống AWD định hướng xe thể thao đặc biệt cho mục đích này được gọi là ATTESA E-TS. Mặc dù điều này hỗ trợ lực kéo nhưng nó khiến chiếc xe nặng hơn 100 kg (220 lb); trọng lượng tăng thêm khiến GT-R gặp bất lợi trước những chiếc xe khác ở hạng 4.000 cc. Nissan sau đó đã quyết định tăng dung tích lên 2.600 cc và xếp chiếc xe vào hạng 4.500 cc, với trọng lượng của xe gần bằng những chiếc xe cạnh tranh. Loại 4.500 cc cũng cho phép sử dụng lốp rộng 11 inch.

Khối động cơ mới sau đó đã được phát triển để phù hợp hơn với việc tăng dung tích xi lanh. Kết quả là một chiếc ô tô có công suất đầu ra là 441 kW (592 mã lực). Sau đó REINIK (Racing & Rally Engineering Division Incorporated Nissan Kohi) đã sản xuất các động cơ đua Nhóm A có công suất từ ​​373–485 kW (507–659 PS; 500–650 mã lực) tùy thuộc vào điều kiện đường đua.

Mẫu concept dẫn động bốn bánh 2.568 cc (2.6 L) RB26DETT mới này đã được đưa vào sản xuất với tên gọi R32 Nissan Skyline GT-R. R32 phát triển 206 kW (276 mã lực) tại 6.800 vòng / phút và mô-men xoắn 353 N⋅m tại 4.400 vòng / phút, nó có trọng lượng hạn chế là 1.430 kg. Nissan chính thức bắt đầu sản xuất vào ngày 21 tháng 8 năm 1989 và bắt đầu chiến dịch Nhóm A vào năm 1990. Sản lượng của dòng xe thế hệ thứ 3 vào khoảng 13000 chiếc.

Phần tiếp theo về lịch sử dòng xe Nissan Skyline GT-R huyền thoại và những điều chưa biết sẽ được OTO-HUI cập nhật trong bài viết số 2.


Xem thêm các bài viết:

Advertisement

Advertisement

Advertisement

Thông Tin Cá Nhân

NamNữ

Trình Độ Học Vấn

Thông tin chung

Kỹ thuật viên sửa chữa chungKỹ thuật viên sơnKỹ thuật viên đồngKỹ thuật viên điệnChăm sóc, làm đẹp, Detailing ô tôCố vấn dịch vụBán hàng (Sales)Nhân viên phụ tùngThiết kếMarketingKiểm soát chất lượng (PDI)Quản đốc xưởngTrưởng/phó phòng dịch vụTrưởng/phó phòng kinh doanhTrưởng/phó phòng kỹ thuậtGiám đốc điều hànhChưa có kinh nghiệmKhác